|
Thuốc kháng histamin H1 thế hệ mới
trong điều trị các bệnh dị ứng ở trẻ em
Ths.Bs. Nguyễn Hữu Trường
Trung tõm Dị ứng – Miễn dịch Lâm sàng BV Bạch mai
Histamin là một hoạt chất trung gian được giải phóng với số lượng lớn trong các phản ứng dị ứng cấp tính. Khi gắn vào các thụ cảm thể H1 trên đường thở, não, thành mạch máu, đường tiêu hoá và một số loại tế bào, histamin có thể gây ra nhiều triệu chứng dị ứng khác nhau như mày đay, phù mạch, co thắt phế quản, tụt huyết áp… Các thuốc kháng histamin H1 thế hệ cũ (thế hệ 1) như diphenhydramine, chlorpheniramine, hydroxyzine và promethazine, mặc dù có tác dụng chống dị ứng tương đối tốt nhưng cũng có thể gây ra khá nhiều tác dụng phụ (như gây an thần, buồn ngủ, khô mắt, khô miệng, nhìn mờ và kích động), đặc biệt là ở trẻ em. Để khắc phục nhược điểm này, các thuốc kháng H1 thế hệ 2 như cetirizine, loratidine, fexofenadine và desloratidine đã ra đời và được sử dụng ngày càng rộng rãi. Do có kích thước phân tử lớn hơn nên các thuốc này khó qua được hàng rào máu não và ít có tác dụng an thần. Nói chung, các thuốc kháng histamin có tác dụng ức chế cạnh tranh nên chỉ đạt được hiệu quả tối đa khi dùng dự phòng, nếu dùng sau khi triệu chứng dị ứng đã xảy ra thì hiệu quả thường kém hơn. Do được hấp thu tốt qua đường uống nên các thuốc kháng H1 thế hệ 2 được dùng chủ yếu qua đường uống hoặc đường tại chỗ (nhỏ mắt, nhỏ mũi).
Các thuốc kháng H1 thế hệ 2 dùng ở trẻ em:
Cetirizine: mặc dù cetirizine là một thuốc kháng H1 thế hệ 2 nhưng vẫn có thể ít nhiều có tác dụng an thần ở một số bệnh nhân. Thuốc không chuyển hoá qua gan nên có tác dụng nhanh và ít tương tác với các thuốc khác. Cetirizine là một trong những thuốc kháng H1 có tác dụng tốt nhất để dự phòng các phản ứng dị ứng ngoài da. Bên cạnh tác dụng kháng histamin, cetirizine còn chống dị ứng thông qua nhiều cơ chế khác như giảm số lượng bạch cầu ái toan ở tổ chức da, ức chế phản ứng viêm muộn. Thuốc có thể được sử dụng cho trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên.
Loratidine: là một trong những thuốc kháng H1 được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới và có thể mua không cần đơn. Thuốc được chuyển hoá qua gan bởi hệ thống men cytochrome P450 và có tác dụng chậm hơn một chút so với các thuốc kháng H1 thế hệ 2 khác.
antihistamines.39,48,49
Fexofenadine: là sản phẩm chuyển hoá có hoạt tính của terfenadine, thuốc có tác dụng kéo dài và rất ít gây buồn ngủ. Thuốc không được chuyển hoá qua gan nên rất ít tương tác với các thuốc khác. Thuốc có thể được sử dụng cho trẻ em từ 6 tuổi trở lên.
Desloratidine: là một chất chuyển hoá cơ bản của loratidine, thuốc rất ít có tác dụng an thần và có tác dụng tốt trong nhiều bệnh dị ứng khác nhau. Desloratidine không chuyển hoá qua gan nên cũng ít có nguy cơ gây tương tác thuốc.
Tác dụng phụ thường gặp: Nói chung, các thuốc kháng H1 thế hệ 2 có tác dụng tương đối chọn lọc nên ít có các tác dụng phụ thường gặp của các thuốc kháng H1 thế hệ 1 như gây buồn ngủ, khô miệng, tăng cân… Terfenadine và astemizole là 2 thuốc kháng H1 thế hệ 2 đầu tiên được đưa vào sử dụng, nhưng do có tác dụng độc với tim (gây xoắn đỉnh và kéo dài khoảng QT) nên đã bị rút khỏi thị trường. Các tác dụng phụ này xảy ra chủ yếu khi terfenadine và astemizole được sử dụng đồng thời với các kháng sinh macrolide và một số thuốc chống nấm. Độc tính này không được ghi nhận với các thuốc kháng H1 thế hệ 2 khác. Nói chung, rất ít tác dụng phụ được ghi nhận sau dùng các thuốc kháng H1 thế hệ 2 ở liều điều trị thông thường, đặc biệt là ở trẻ em. Hầu hết các báo cáo về tác dụng phụ của thuốc kháng H1 thế hệ 2 được ghi nhận trong các trường hợp bị ngộ độc thuốc.
Chỉ định điều trị:
Viêm mũi dị ứng: bệnh xảy ra ở khoảng 30% trẻ trong tuổi vị thành niên và là một trong những nguyên nhân thường gặp khiến trẻ phải nghỉ học. Viêm mũi dị ứng có thể xảy ra theo mùa hoặc quanh năm. Các thuốc kháng H1 thế hệ 2 được chứng minh là có hiệu quả và an toàn trong việc kiểm soát các triệu chứng của viêm mũi dị ứng ở trẻ em như ngứa mũi, chảy nước mũi, nước mắt. Các nghiên cứu cũng cho thấy, dùng phối hợp các thuốc kháng histamin H1 thế hệ 2 với các thuốc co mạch như pseudoephedrine giúp tăng hiệu quả của các thuốc này trong điều trị triệu chứng nghẹt mũi. Một số thuốc kháng H1 thế hệ 2 có thể được dùng để nhỏ mũi trong điều trị viêm mũi dị ứng, tác dụng nhanh hơn nhưng cũng ngắn hơn so với đường uống.
Chàm cơ địa và mày đay: trước đây người ta cho rằng các thuốc kháng H1 thế hệ 1 sẽ có tác dụng giảm ngứa tốt hơn thế hệ 2 trong điều trị chàm cơ địa và mày đay do có tác dụng an thần. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã cho thấy hiệu quả rất tốt của các thuốc kháng H1 thế hệ 2 trong việc kiểm soát các triệu chứng của 2 bệnh này như giảm ngứa, giảm lichen hoá, giảm số lượng và kích thước ban đỏ. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn cho thấy, ở những trẻ em bị chàm cơ địa dị ứng và có dị ứng với các dị nguyên như bụi nhà, phấn hoa, việc điều trị kéo dài với các thuốc kháng H1 thế hệ 2 như cetirizine có thể giúp giảm nguy cơ mắc hen phế quản.
Viêm kết mạc dị ứng: các kháng H1 thế hệ 2 có hiệu quả tốt với các triệu chứng ngứa mắt, đỏ mắt và chảy nước mắt, cải thiện được chất lượng cuộc sống. Các chế phẩm nhỏ mắt thường khởi phát tác dụng nhanh hơn so với đường uống nhưng thời gian tác dụng cũng ngắn hơn.
Ngoài ra, các thuốc kháng H1 thế hệ 2 còn được sử dụng trong một số biểu hiện dị ứng khác ở trẻ em như phản ứng dị ứng do côn trùng đốt, sốc phản vệ, bệnh lý tăng tế bào mast…
|